Bồi dưỡng kiến thức gia đình cho công thức văn hóa – xã hội phường, thị trấn

03/10/2014 | 1:33

Trong bối cảnh Công nghiệp hoá và Hội nhập quốc tế, vấn đề gia đình và quản lý nhà nước về công tác gia đình ngày càng giữ vị trí quan trọng trong toàn bộ quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần quan trọng thực hiện Chiến lược phát triển kinh […]

Trong bối cảnh Công nghiệp hoá và Hội nhập quốc tế, vấn đề gia đình và quản lý nhà nước về công tác gia đình ngày càng giữ vị trí quan trọng trong toàn bộ quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần quan trọng thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2020, tầm nhìn 2030 của Việt Nam.

Tại Thông báo số 26-TB/TW ngày 9 tháng 5 năm 2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (Khoá XI) đã ghi rõ: “Khẳng định xây dựng gia đình là vấn đề lớn, hết sức hệ trọng của dân tộc và của cả thời đại”.

Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về gia đình theo quy định của Nghị định số 185/2007/NĐ-CP cũng như Nghị định 76/2013/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ (thay thế Nghị định 185/NĐ-CP).

Trong thời gian qua, đặc biệt 5 năm trở lại đây, hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản quản lý hành chính về công tác gia đình đã được ban hành. Suy đến cùng, tổ chức thực hiện trực tiếp và trực diện nhất, cụ thể nhất  Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam, chương trình, đề án, kế hoạch… của nhiệm vụ quản lý nhà về công tác gia đình là ở cấp xã, trong đó công chức văn hoá – xã hội chiếm giữ vai trò rất quan trọng. Khi và chỉ khi, đội ngũ công chức văn hoá – xã hội ở xã, phường, thị trấn được trang bị kiến thức, kỹ năng cơ bản và được cập nhật kiến thức, được huấn luyện thường xuyên thì họ mới có thể đáp ứng được nhiệm vụ tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền xã, phường, thị trấn và trực tiếp tổ chức các hoạt động của công tác gia đình trên địa bàn quản lý.

Hơn thế nữa, công tác gia đình là một lĩnh vực rộng và khá phức tạp vì gia đình là một thiết chế đặc thù. Bởi vậy, xét về phương thức quản lý, cần phải có sự kết hợp hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước với sự tham gia của các tầng lớp nhân dân thông qua các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội từ trung ương đến địa phương, đặc biệt ở phường, thị trấn. Do đó, công chức văn hoá – xã hội cần phải có năng lực khâu nối, phối hợp các ban ngành, đoàn thể, các tổ chức ở địa phương trong quá trình triển khai nhiệm vụ tham mưu giúp cấp uỷ, chính quyền quản lý công tác gia đình. Để thực hiện điều này, việc trang bị kiến thức và kỹ năng cho họ là hết sức cần thiết.

  1. Cơ sở thực tiễn

1.2.Thực trạng đội ngũ công chức văn hóa – xã hội xã, phường, thị trấn hiện nay

Đối với tất cả các địa phương, công chức văn hóa – xã hội là người trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước tại xã, phường, thị trấn. Họ là lực lượng quản lý nhà nước có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội trên mỗi địa bàn phụ trách. Khối lượng công việc rất lớn, nhịp độ làm việc cao, đặc biệt phải thực hiện các công việc trên nhiều lĩnh vực với nhiều nhóm kỹ năng tác nghiệp khác nhau, từ  xây dựng văn bản quản lý, điều tra báo cáo đến việc thực hiện các công tác giáo dục, y tế, văn hóa, gia đình, thể dục thể thao, truyền thông… và hàng chục loại việc không tên. Vai trò quan trọng như vậy, song thực tế hiện nay, đội ngũ công chức văn hoá – xã hội chưa được đầu tư cả về số lượng lẫn chất lượng.

Theo báo cáo thống kê về tình hình đội ngũ công chức văn hoá – xã hội xã, phường, thị trấn của 57/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương của Vụ Gia đình, (Các tỉnh không có báo cáo thống kê gồm Hải Dương, Thanh Hoá, Nghệ an, Quảng Trị, Bình Phước, Cà Mau), tình hình đội ngũ công chức văn hoá – xã hội xã, phường, thị trấn như sau:

Tổng số: 8.939 người. Trong đó: – Giới tính: nam 5.689, nữ 3.260.

– Trình độ: đại học 1.415; dưới đại học 5.175; chưa qua đào tạo 1.826

(Số những người được đào tạo liên quan đến lĩnh vực VHTTDL: 3.473 = 38,85%)

– Nhiệm vụ được phân công: Kiêm nhiệm nhiều việc: 8.402 (93,9%); bán chuyên trách về công tác gia đình 38 (0,04%); chuyên sâu về công tác gia đình 28 (0,031%).

– Thời gian đảm nhiệm công tác gia đình: trước 2008 có 1.345 người (15%); từ 2010 trở lại đây 2.281 người (25%).

Nhìn vào thống kê (chưa đầy đủ) về đội ngũ công chức văn hóa – xã hội làm công tác gia đình, chúng tôi thực sự băn khoăn lo lắng. Như chúng ta đều biết phát triển nguồn nhân lực là một nội dung hết sức quan trọng để đảm bảo cho sự phát triển kinh tế – xã hội nhanh và bền vững của một quốc gia nói chung và của từng địa phương nói riêng. Chính sách về nhân lực của công tác văn hoá – xã hội nói chung, nhân lực làm công tác gia đình nói riêng trong nhiều năm qua để tồn tại vấn đề: nhân sự cấp trung gian nhiều hơn nhân sự làm trực tiếp.

Mặc dù Nghị định 92/2009/NĐ-CP ngày 25 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ có quy định về chức danh công chức văn hoá – xã hội, nhưng lại khống chế số lượng công chức xã, phường, thị trấn theo loại 1, 2, 3. Với quy định như vậy, không phải địa phương nào cũng có 02 công chức văn hoá – xã hội.

Theo một báo cáo của Cục công tác phía Nam của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch: “toàn tỉnh Tây Ninh có 94 xã, phường, thị trấn (trong đó có 18 phường, xã, thị trấn nằm trong khu vực đô thị, 76 xã nằm ở khu vực nông thôn) thì có 66 xã, phường, thị trấn bố trí 01 cán bộ, công chức văn hóa – xã hội (chiếm hơn 70%); 20 xã, phường, thị trấn có 02 cán bộ, công chức”.

Đã thiếu về số lượng, song một điều rất đáng quan ngại là tình trạng số công chức văn hóa – xã hội luôn luôn biến động, luôn thay đổi. Thực tế cho thấy công chức văn hoá – xã hội nhất là công chức phụ trách văn hoá, gia đình, thể thao, du lịch, thông tin truyền thông hay được điều động, điều chuyển công tác lên tuyến trên, hoặc phiên chế qua các lĩnh vực khác. Sự biến động có thể diễn ra hàng năm, hoặc trong một nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân cấp xã tới vài ba lần. Nguyên nhân thì có thể có nhiều, song chúng tôi cho rằng nguyên nhân cơ bản là cùng với sự thiếu quan tâm hỗ trợ từ lãnh đạo chính quyền cấp xã thì khối lượng công việc văn hoá – xã hội quá lớn, quá rộng, quá thường xuyên và liên tục. Động vào việc gì cũng gọi đến công chức này, tính chuyên nghiệp, chuyên sâu, tính ổn định không có nên bản thân họ cũng không mấy mặn mà nên chủ động xin chuyển. Mặt khác về tâm lý, lãnh đạo thấy công chức văn hoá – xã hội “có vẻ nhanh nhẹn, nói năng hoạt bát, xuất hiện trước đám đông tự tin… (vốn công việc của họ tạo cho họ phong cách và kỹ năng này) lại điều chuyển họ vào công việc “quan trọng hơn”.

Hệ quả của sự biến động thường xuyên về công chức văn hóa – xã hội dẫn đến tình trạng đứt đoạn công việc đối với địa phương, song điều quan trọng hơn là việc cán bộ mới lại phải đào tạo, phải  tập huấn bồi dưỡng từ đầu. Thực trạng này đã diễn ra nhiều năm nay mà vẫn chưa có lời giải.

1.2. Trong một thời gian ngắn, hàng loạt chính sách, đề án, chương trình, kế hoạch… về công tác gia đình được cấp thẩm quyền ban hành, trong khi đó cơ quan Trung ương chỉ triển khai tập huấn, bồi dưỡng cập nhật kiến thức, kỹ năng cho cán bộ cấp tỉnh. Việc tỉnh tập huấn cho công chức văn hoá – xã hội xã, phường, thị trấn không thường xuyên và do nhiều yếu tố không phải tỉnh nào cũng tổ chức tập huấn có chất lượng.

Ngoài 04 Luật liên quan trực tiếp đến công tác gia đình (Luật bình đẳng giới, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Luật người cao tuổi, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em), từ năm 2008 đến 2013 đã có 38 văn bản quy phạm, văn bản quản lý hành chính, Chiến lược, Chương trình hành động, Đề án, Kế hoạch… của công tác gia đình được Trung ương ban hành. Chỉ tính riêng 2 năm 2012, 2013 và quý I năm 2014 đã có tới 8 văn bản quan trọng:

– Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 (theo Quyết định 629/QĐ-TTg ngày 29/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ);

– Nghị quyết số 81/NQ-CP về  Kế hoạch hành động của Chính phủ thực hiện Thông báo 26-TB/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về xây dựng gia đình thời kỳ CNH-HĐH (ngày 04/12/2012);

– Nghị định số 02/2013/NĐ-CP ngày 03/1/2013 của Chính phủ quy định về công tác gia đình;

– Số 251/TTg-KGVX ngày 19/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ lấy năm 2013 là Năm Gia đình Việt Nam;

– Thông tư số 12/2013/TT- BVHTTDL ngày 17/12/2013 của Bộ trưởng Bộ VHTTDL Quy định chi tiết hoạt động hỗ trợ xây dựng gia đình hạnh phúc, phát triển bền vững;

– Đề án Kiện toàn và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ thực hiện công tác gia đình các cấp đến năm 2020 (theo Quyết định số 200/QĐ-TTg  ngày 25/1/2014 của Thủ tướng Chính phủ);

– Chương trình hành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình (Theo Quyết định số 215/QĐ-TTg ngày 06/2/2014 của Thủ tướng Chính phủ);

– Đề án Phát huy giá trị tốt đẹp các mối quan hệ trong gia đình và hỗ trợ gia đình xây dựng hạnh phúc, bền vững đến năm 2020 (Theo Quyết định số 279/QĐ-TTg ngày 20/2/2014 của Thủ tướng Chính phủ.

Đây là những văn bản chứa đựng nhiều nội dung, nhiệm vụ, chỉ tiêu, giải pháp mà hơn 11.124 xã, phường, thị trấn trên phạm vi cả nước phải tổ chức thực hiện và đương nhiên gắn với trách nhiệm của công chức văn hoá – xã hội.

Từ thực trạng về số lượng, chất lượng cũng như sự biến động thường xuyên của đội ngũ công chức văn hóa – xã hội, từ yêu cầu thực tiễn của việc tổ chức các văn bản quy phạm, văn bản hành chính quản lý công tác gia đình, vấn đề đặt ra là nếu không được tập huấn bồi dưỡng cho đội ngũ này thì tình hình công tác quản lý nhà nước về công tác gia đình chắc chắn sẽ khó lòng đạt yêu cầu và như vậy, mục tiêu “xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc” như mục tiêu của Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến Năm 2020, tầm nhìn 2030 khó lòng đạt được.

  1. Những kiến thức cơ bản

Trong bối cảnh công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế, gia đình Việt Nam đã biến đổi một cách toàn diện và ngày càng trở thành một thực thể hoàn thiện – năng động phù hợp với những điều kiện kinh tế – xã hội có nhiều biến động. Sự biến đổi ấy chính là một quá trình liên tục bảo tồn, truyền thụ, phát huy những giá trị của gia đình truyền thống; đồng thời, tiếp thu có chọn lọc và cải biến những giá trị tiên tiến, những tinh hoa của gia đình hiện đại. Có thể nói, gia đình Việt Nam hiện nay chính là sản phẩm của sự hiện đại hóa các giá trị cao quý của gia đình Việt Nam truyền thống và truyền thống hóa những giá trị, tinh hoa gia đình của các xã hội hiện đại.

Tuy nhiên, cùng với những cơ hội và những điều kiện thuận lợi thúc đẩy sự phát triển tiến bộ, gia đình Việt Nam cũng đang đứng trước nhiều nguy cơ và thách thức trong bối cảnh toàn cầu hóa nhiều biến động và bất trắc: đó là tình trạng ly hôn có xu hướng tăng cao; sống chung không kết hôn; tình trạng trẻ em nghiện hút; tệ nạn mại dâm; tình dục đồng giới; trẻ em lang thang; buôn bán phụ nữ qua biên giới; bạo lực trong gia đình; bất bình đẳng giới; ngoại tình; xu hướng đề cao tiền bạc trong quan hệ giữa người và người… đang tấn công vào gia đình từ nhiều phương diện khác nhau.

Tất cả những giá trị tốt đẹp cũng như những tiêu cực, thách thức đối với mỗi gia đình ở các vùng miền khác nhau đều diễn ra tại một thôn, ấp, khu dân cư nào đó của một xã, phường, thị trấn cụ thể nào đó. Tức là trên địa bàn mà công chức văn hoá – xã hội có nhiệm vụ thực thi. Để giúp đội ngũ công chức có được một “lưng vốn” kiến thức về lĩnh vực công tác gia đình, chúng tôi đề xuất như sau:

2.1. Nhóm kiến thức cơ bản

  1. Một số khái niệm liên quan: gia đình, hộ gia đình, hôn nhân, chung sống như vợ chồng, thành viên gia đình….
  2. Các chức năng của gia đình
  3. Chu kỳ đời sống gia đình
  4. Sự biến đổi gia đình Việt Nam trong quá trình công nghiệp hoá và hội nhập
  5. Văn hoá gia đình: truyền thống và hiện đại

2.2. Nhóm kiến thức quản lý nhà nước về công tác gia đình

  1. Chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về gia đình
  2. Quản lý nhà  nước về gia đình ở xã, phường, thị trấn
  3. Kỹ năng xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch công tác gia đình
  4. Kỹ năng vận động, phối hợp các ban ngành ở địa phương thực hiện nhiệm vụ công tác gia đình
  5. Kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết công tác gia đình theo từng thời kỳ, từng năm.
  6. Kỹ năng thuyết trình và tổ chức các hoạt động tuyên truyền phòng, chống bạo lực gia đình; tổ  chức thu thập, lưu trữ số liệu về phòng chống bạo lực gia đình;
  7. Nghiệp vụ về xây dựng các mô hình phòng chống bạo lực gia đình tại cơ sở.

H.H.V

Bài viết liên quan

Mẫu biểu trưng, bộ nhận diện chính thức kỷ niệm 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam

VHO – Bộ VHTTDL đã bàn hành Quyết định số 3228/QĐ – BVHTTDL ngày 9.9.2025 về việc phê duyệt mẫu biểu trưng (logo), bộ nhận diện để sử dụng chính thức trong các hoạt động tuyên truyền kỷ niệm 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam (6.1.1946 – 6.1.2026). Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký và thay thế Quyết định số 3175/QĐ-BVHTTDL ngày 4.9.2025 của Bộ trưởng Bộ VHTTDL.

Xem thêm

Tốt nghiệp THPT 26.6.2025: Kỳ thi được toàn xã hội đặt nhiều kỳ vọng

VHO – Biến kỳ thi tốt nghiệp THPT thành “ngày hội” của người học, người dạy và cả xã hội. Đó là sự chuyển hóa từ một nền giáo dục thi cử nặng ứng thí sang nền giáo dục khai phóng và nhân văn.

Xem thêm

Phát huy vai trò văn hóa, VHNT về giáo dục cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư

VHO – Thay mặt Bộ Chính trị, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú vừa ký ban hành Chỉ thị số 42 của Bộ Chính trị về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”.

Xem thêm

Triển khai Tháng hành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có công văn 1461 /BVHTTDL-GĐ về việc triển khai Tháng hành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình

Xem thêm

Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số

Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thật sự trở thành sức mạnh nội sinh, tạo động lực cho phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Đây cũng chính là cơ sở quan trọng trong việc định hướng, xây dựng chính sách bảo tồn, phát huy, quảng bá giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.

Xem thêm