Chân lý và sáng tạo trong cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng vẫn khẳng định và tỏa sáng
12/06/2015 | 2:13
Trong lịch sử đôi khi có những trường hợp, những phát hiện hoặc quan điểm cách mạng thật sự có tính khoa học, mới mẻ, sáng tạo, nhưng lúc mới xuất hiện, chưa được thừa nhận ngay, thậm chí còn bị quy kết là sai. Những đúng đắn, sáng tạo trong Cương lĩnh chính trị […]
Trong lịch sử đôi khi có những trường hợp, những phát hiện hoặc quan điểm cách mạng thật sự có tính khoa học, mới mẻ, sáng tạo, nhưng lúc mới xuất hiện, chưa được thừa nhận ngay, thậm chí còn bị quy kết là sai. Những đúng đắn, sáng tạo trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng ta do Hồ Chí Minh khởi thảo chính là một trường hợp như thế. Song, cùng với niềm tin khoa học và sự kiên định cách mạng của một bậc đại nhân, đại trí, đại dũng, thực tiễn cách mạng nước ta đã làm sáng ngời chân lý sáng tạo trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng ta.
- Đúng đắn, sáng tạo bị hiểu lầm và những sóng to gió lớn
Trong Hội nghị thành lập Đảng từ ngày 3-2 đến mồng 7-2-1930, đồng chí Nguyễn Ái Quốc, với tư cách là Ủy viên Ban Phương Đông, phụ trách Cục Phương Nam của Quốc tế Cộng sản chủ trì Hội nghị hợp nhất các đảng cộng sản thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Các văn kiện thông qua Hội nghị này như: Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam, Lời kêu gọi, tuy rất vắn tắt, nhưng tập trung đầy đủ tính khoa học, cách mạng, sáng tạo của tư duy Nguyễn Ái Quốc trong việc hoạch định những nét cơ bản về đường lối chiến lược, sách lược của cách mạng Việt Nam. Ngày nay, các văn kiện đó được gọi là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng ta. Tuy nhiên, đó là danh hiệu tôn vinh của ngày hôm nay.
Còn trong Lịch sử Đảng, chính Hội nghị thành lập Đảng và những văn kiện nói trên từng bị nhận những đánh giá, phê phán, quy kết hết sức nặng nề của một số đồng chí trong Đảng, của Hội nghị Trung ương Đảng và cả của Quốc tế Cộng sản thời kỳ 1930 – 1938. Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ nhất họp tháng 10 – 1930, thảo luận và thông qua bản dự thảo Luận cương Chính trị do đồng chí Trần Phú trình bày và thông qua nhiều nghị quyết quan trọng. Trong đó “Án nghị quyết của Trung ương toàn thể Đại hội nói về tình hình hiện tại ở Đông Dương và nhiệm vụ cần kíp của Đảng” đã phê phán nhiều sai lầm của Hội nghị hiệp nhất Đảng do đồng chí Nguyễn Ái Quốc chủ trì.
Một là sai lầm về tổ chức: “Lúc đầu tổ chức đảng, kế hoạch không xác đáng Hiệp hội hiệp nhất Đảng, lại không lấy một nền chính trị cộng sản làm căn bổn…”1.
Hai là sai lầm về chính trị: “Vấn đề thổ địa“. Không rõ ràng và có chỗ không đúng như chia địa chủ làm đại, trung và tiểu địa chủ… Vấn đề tư bổn. Trong sách lược nói phải lợi dụng bọn tư bản mà chưa rõ mặt phản cách mạng….
“Những điều sai lầm về sách lược đó chứng tỏ ra rằng chỉ lo đến việc phản đế, mà quên mất lợi ích giai cấp tranh đấu ấy là một sự rất nguy hiểm”.2
Ba là sai lầm về Điều lệ và tên Đảng: “Trong hệ thống tổ chức của Đảng thì bỏ mất xứ bộ… gọi là “Việt Nam cộng sản Đảng” thì không gồm được Cao Miên và Lào, mà để vô sản giai cấp hai xứ ấy ra ngoài phạm vi đảng là không đúng”3.
Án Nghị quyết này đi đến kết luận”: a) Thủ tiêu chánh cương sách lược và Điều lệ cũ của Đảng, lấy kinh nghiệm trong thời kỳ vừa qua mà thực hành công việc cho đúng như Án Nghị quyết và Thơ chỉ chị của quốc tế cộng sản. b) Bỏ tên “Việt Nam Cộng sản Đảng mà lấy tên” Đông Dương Cộng sản Đảng”4.
Sau Hội nghị Trung ương tháng 10 – 1930, trong Thư gửi Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, Nguyễn Ái Quốc cho rằng công việc của Người chỉ như một “thùng thơ”, nên đề nghị xin đổi chỗ, vì “thùng thơ” thì người khác cũng làm được”5.
Đồng chí Hà Huy Tập, trong cuốn sách “Sơ thảo lịch sử phong trào cộng sản ở Đông Dương” khi phê phán Cương lĩnh chính trị của Hội nghị hợp nhất đảng cho rằng: “Các văn kiện chính thức chứng tỏ rằng đường lối chính trị của Hội nghị hợp nhất và của đồng chí Nguyễn Ái Quốc đều sai lầm trên nhiều phương diện”6.
“Sở dĩ sai lầm như vậy là vì đồng chí Nguyễn Ái Quốc và các đại biểu Hội nghị hợp nhất còn mang nặng những tàn tích của chủ nghĩa quốc gia và chủ nghĩa sôvanh. Những danh từ mà đồng chí Nguyễn Ái Quốc dùng trong lá truyền đơn của mình: “Đồng bào…, cách mạng Việt Nam…, nếu chúng ta cứ bỏ mặc cho tất cả giống nòi Việt Nam bị quét sạch….” chứng tỏ rằng khuynh hướng sai lầm đó đã tồn tại không thể biện bạch nổi”7. Sách này do Thư viện phong trào cách mạng của Đảng Cộng sản Phân bộ của Quốc tế Cộng sản xuất bản năm 1933.
Bên cạnh những hiểu lầm về những giá trị sáng tạo của Cương lĩnh chính trị đầu tiên như vậy, thì bản thân tác giả của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng ta cũng gặp nhiều khó khăn thử thách rất lớn. Đó là với sự phối hợp của mật thám Pháp và cảnh sát Anh, ngày 6 – 6 – 1931, cảnh sát Anh đã bắt giam Nguyễn Ái Quốc tại nhà tù Victoria ở Hồng Kông. Sau đó, nhờ có sự phối hợp giữa Đảng Cộng sản Đông Dương với Hội Quốc tế cứu tế Đỏ và nhất là hoạt động của vợ chồng Luật sư Lô-dơ-bai cộng với sự năng động sáng tạo đặc biệt của mình, Nguyễn Ái Quốc được trắng án, thoát khỏi nhà tù ở Hồng Kông và trở lại Liên Xô. Mùa thu năm 1934, Nguyễn Ái Quốc được nhận vào học Trường Quốc tế Lênin niên khóa 1934 – 1935. Ngày 29 – 6 – 1935, trong thư của Trưởng phòng Đông Dương Vera Vasilieva gửi Ban Phương Đông Quốc tế cộng sản có một ý nghi ngờ: “tháng 6 – năm 1934, Nguyễn Ái Quốc đến Mát-xcơ-va. Qua lời kể của đồng chí thì khó xác định được tại sao đồng chí lại dễ dàng ra khỏi nhà tù và thoát khỏi tay cảnh sát Pháp”8. Sau đó, trong thư gửi Ban Chấp hành Đảng Cộng sản Đông Dương, bà viết: “Đối với đồng chí Nguyễn Ái Quốc, chúng tôi cho rằng trong hai năm tới đây, đồng chí ấy cần phải nghiêm túc, nỗ lực học tập và không được làm một việc gì khác”9.
Tháng 2 – 1936: Ban thẩm tra vụ việc Nguyễn Ái Quốc được thành lập để thẩm tra:
1- Vì sao biết Lâm Đức Thụ là kẻ phản bội mà vẫn sử dụng?
2- Vì sao Tòa án Hồng Kông chỉ kết tội nhẹ và thoát khỏi nhà tù một cách dễ dàng?
3- Bằng cách nào đến được Mát-xcơ-va?
Sở dĩ xuất hiện những đánh giá không đúng về Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng ta như vậy là vì ảnh hưởng của đường lối tả khuynh từ Đại hội VI của Quốc tế Cộng sản họp năm 1928. Đường lối đó hối thúc quần chúng cách mạng các nước tiến hành cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt để giành thắng lợi cách mạng đang đến rất gần. Tinh thần của đường lối ấy được khái quát là “lấy giai cấp chống giai cấp”10. Đối với phong trào cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, nửa thuộc địa, đường lối đó cho rằng giai cấp tư sản dân tộc không có vai trò quan trọng trong lực lượng chống chủ nghĩa đế quốc, cho nên không được liên minh với giai cấp tư sản dân tộc, phú nông, không nên cường điệu khuynh hướng cách mạng của giai cấp tiểu tư sản thành thị.
Sau Nguyễn Ái Quốc, các đồng chí Trần Phú, Hà Huy Tập đều là những người từng được học tập ở trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản, ra trường bước vào hoạt động trong thời kỳ Đảng ta vừa mới thành lập, cũng là lúc đường lối tả khuynh của Đại hội VI Quốc tế Cộng sản đang được quán triệt đến các chi bộ và các tổ chức chịu ảnh hưởng của Quốc tế Cộng sản, cho nên những sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc lại bị đánh giá là sai lầm.
- Sáng tạo trong vấn đề dân tộc, xác định thái độ với các giai cấp, liên minh giai cấp và đoàn kết toàn dân tộc
Trong các Văn kiện thành lập Đảng, Nguyễn Ái Quốc đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác -Lênin vào hoàn cảnh Việt Nam xác định rõ chủ trương “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”11. Cuộc cách mạng này đánh đổ thực dân Pháp và bọn phong kiến, làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập, nhân dân được các quyền dân chủ, tự do, hạnh phúc. Đó chính là tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, xuyên suốt các chủ trương đường lối cách mạng Việt Nam từ khi Đảng ta ra đời đến nay. Trong tư tưởng lớn đó, sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc là ở chỗ: xác định độc lập dân tộc là mục tiêu cốt tử, trực tiếp trước mắt, là tiền đề, điều kiện để tiến lên chủ nghĩa xã hội. Giai đoạn đầu của tiến trình cách mạng Việt Nam là cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân với hai nhiệm vụ chiến lược là chống đế quốc và phong kiến, nhiệm vụ giải phóng dân tộc được đặt lên trước hết, trên hết; nhiệm vụ dân chủ phải được thực hiện đồng thời, nhưng tiến hành từng bước, căn cứ theo tiến trình giải phóng dân tộc và nhằm hỗ trợ nhiệm vụ giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản. Các nhà kinh điển như Mác, Ăng ghen quan niệm lực lượng cách mạng chủ yếu là liên minh công nông. Lênin quan niệm đó là liên minh Công-Nông-Binh. Còn sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh là ở chỗ quan niệm lực lượng cách mạng ở nước ta là toàn thể nhân dân. Cho nên, trong Sách lược vắn tắt của Đảng, Người chủ trương Đảng không chỉ thu phục giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, mà “Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, thanh niên, Tân Việt để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp”12. Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên trong Đảng ta nêu ra tư tưởng cần xây dựng liên minh Công-Nông-Trí dưới sự lãnh đạo của Đảng làm nòng cốt cho lực lượng cách mạng Việt Nam bao gồm tất cả các tầng lớp nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong lúc đó, dự thảo luận cương chính trị của đồng chí Trần Phú thông qua tại Hội nghị Trung ương tháng 10-1930, lại thụt lùi so với Sách lược vắn tắt trong việc đánh giá vai trò và xác định thái độ với tầng lớp trí thức: “Bọn trí thức, tiểu tư sản, học sanh,…. là bọn xu hướng quốc gia chủ nghĩa, chúng nó đại biểu quyền lợi cho tất cả giai cấp tư bổn bổn xứ, chớ không phải chỉ bênh vực quyền lợi riêng cho bọn tiểu tư sản mà thôi. Trong thời kỳ chống đế quốc chủ nghĩa thì bọn ấy cũng hăng hái tham gia, nhưng chỉ lúc đầu mà thôi; chúng nó không thể binh vực quyền lợi cho dân cày được, vì chúng nó phần nhiều có dây dướng với bọn địa chủ”13. Còn trong phong trào Xô viết Nghệ – Tĩnh 1930-1931, có nơi đã xuất hiện khẩu hiệu tả khuynh cực kỳ sai lầm: “Trí phú địa hào đào tận gốc, trốc tận rễ”.
Nguyễn Ái Quốc đánh giá đúng tầm quan trọng của nhân tố dân tộc trong cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, phụ thuộc, nêu ra chủ trương đoàn kết tất cả các tầng lớp nhân dân có thể đoàn kết được, có thể tạo nên sức mạnh đánh đổ đế quốc và phong kiến. Cho nên chủ trương: “Đối với bọn phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập”14. Chính chủ trương đúng đắn và sáng tạo đó, manh nha của tư tưởng lập Mặt trận dân tộc thống nhất ở nước ta lại bị coi là sai lầm là “chỉ lo đến việc phản đế, mà quên mất lợi ích giai cấp tranh đấu ấy là một sự rất nguy hiểm”.
- Vấn đề tên Đảng
Quốc tế Cộng sản do không sát tình hình Đông Dương nên ngày 27 – 10 -1929 ra Chỉ thị gửi những người cộng sản Đông Dương về việc thành lập một Đảng cộng sản ở Đông Dương. Những người thừa hành việc đổi tên Đảng thì quan niệm: “Ba xứ Việt Nam, Cao Miên, Lào, tuy thường gọi là ba nước nhưng kỳ thực chỉ thành một xứ thôi”15. Còn Nguyễn Ái Quốc quan niệm rất đúng là Việt Nam, Lào, Cămpuchia là ba quốc gia dân tộc, mỗi quốc gia dân tộc cần có một Đảng cách mạng chân chính để đoàn kết toàn dân tộc đứng lên làm cách mạng mới thành công. Điều đó là đúng với nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin. Khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Cái từ Đông Dương rất rộng và theo nguyên lý chủ nghĩa Lênin, vấn đề dân tộc là một vấn đề rất nghiêm túc, người ta không thể bắt buộc các dân tộc khác gia nhập Đảng, làm như thế là trái với nguyên lý chủ nghĩa Lênin. Còn cái từ An Nam thì hẹp, vì An Nam chỉ là miền Trung của Việt Nam mà thôi và nước ta có 3 miền: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ. Do đó, từ Việt Nam hợp với cả ba miền và không trái với nguyên lý chủ nghĩa Lênin về vấn đề dân tộc”16. Thực tiễn cách mạng đã chứng tỏ nhận định của Nguyễn Ái Quốc là hoàn toàn sáng suốt. Bởi với tên Đảng Cộng sản Đông Dương, với nhiều chủ trương đúng đắn, nhưng với chủ trương thành lập Liên bang Đông Dương vì đây chỉ là một xứ thì đã không thể thực hiện được. Cho nên, đến năm 1951, khi Đảng ta ra hoạt động công khai thì Đảng lại được đổi tên theo tinh thần Đảng ta là Đảng của Dân tộc Việt Nam.
- Chân lý Hồ Chí Minh được khẳng định và tỏa sáng
Tổng kết thực tiễn cách mạng thế giới thời kỳ 1928-1935, Đại hội VII của Quốc tế Cộng sản họp từ 25-7 đến 21-8 năm 1935 đã sửa chữa và khắc phục về căn bản chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa biệt phái tả khuynh trước đây trong phong trào Cộng sản quốc tế, và có đường lối mới. Ngày nay chúng ta thấy rõ có một sự gặp gỡ giữa tư tưởng Nguyễn Ái Quốc với đường lối mới của Quốc tế cộng sản về cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Có hai vấn đề đáng chú ý, một là: sự đánh giá đúng đắn nhân tố dân tộc trong cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, phụ thuộc; chỉ rõ tính chất cách mạng giải phóng dân tộc ở các thuộc địa và phụ thuộc, hai là: Đường lối thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi chống đế quốc và con đường tiến lên của cách mạng giải phóng dân tộc.
Mặc dầu không tham dự Đại hội lần thứ nhất Đảng Cộng sản Đông Dương, mặc dầu bị phê phán, bị nghi ngờ, song với sự kiên trì đường lối độc lập tự chủ, đúng đắn, sáng tạo và sự hoạt động không mệt mỏi với uy tín cao, đồng chí Nguyễn Ái Quốc vẫn được bầu là ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta và là đại diện của Đảng tại Quốc tế cộng sản. Với cương vị đó, Nguyễn Ái Quốc vẫn có những đóng góp tích cực vào đường lối và sự lãnh đạo của Đảng với cách mạng Việt Nam. Từ Hội nghị Trung ương tháng 7 – 1936, Đảng ta đã bước đầu thực hiện sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược theo tinh thần nghị quyết Đại hội VII của Quốc tế Cộng sản và theo những đúng đắn, sáng tạo trong cương lĩnh chính trị đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc.
Cũng trong năm 1936, Ban thẩm tra vụ việc Nguyễn Ái Quốc ở Quốc tế cộng sản gồm các đồng chí: Cônxinna, Hải An và Krapxki nhóm họp và đi đến những kết luận chính như sau :
- Đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã mắc một số sai lầm nghiêm trọng trong hoạt động bí mật. Ban thẩm tra yêu cầu đồng chí từ nay không để xảy ra những trường hợp tương tự. Đề nghị đồng chí rút kinh nghiệm bài học này trong hoạt động bí mật sau này.
- Ban thẩm tra không tìm ra chứng cứ nghi ngờ nào về sự trung thành chính trị của đồng chí Nguyễn Ái Quốc.
- Hồ sơ vụ việc về Nguyễn Ái Quốc được hủy bỏ.
Ngày 6 – 6 – 1938, dự kiến những biến đổi tình hình thế giới và trong nước khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra, Nguyễn Ái Quốc viết thư cho một đồng chí trong Ban chấp hành Quốc tế Cộng sản đề nghị cho được về nước hoạt động. Bà Vasilieva người có quá trình theo dõi và công tác lâu năm với Nguyễn Ái Quốc lúc này đã hiểu biết rất rõ về uy tín và tài năng của Nguyễn Ái Quốc, nên có thư gửi Ban bí thư Quốc tế cộng sản rằng: “Đồng chí Lin (tức Nguyễn Ái Quốc) là ủy viên Ban chấp hành Trung ương, là người có uy tín lớn trong Đảng Cộng sản Đông Dương, nay từ đây về thì Đảng sẽ chăm chú lắng nghe những ý kiến của đồng chí ấy”17. Đề nghị được chấp thuận. Ngày 29 – 9 – 1938, Nguyễn Ái Quốc rời viện nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa, bỏ lại bản luận án đang viết dở, bắt đầu một hành trình hoạt động ở Trung Quốc trước khi trở về Tổ Quốc, ngày 28-1-194. Từ ngày 10 đến ngày 19-5-1941, với tư cách đại diện Quốc tế Cộng sản Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị lần thứ 8, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương. Chính thức từ Hội nghị này, tư tưởng Hồ Chí Minh và nhất là những đúng đắn, sáng tạo trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng ta được khẳng định, bổ sung, phát triển trực tiếp thành đường lối cách mạng Việt Nam.
Hồ Chí Minh khẳng định rõ: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn việt gian đặng cứu lấy giống nòi ra khỏi nước sâu lửa nóng”18.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 của Đảng ta nhấn mạnh một cách hùng hồn tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”19.
Những quan niệm giáo điều tả khuynh về đấu tranh giai cấp từng xuất hiện trước đó được khắc phục. Chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh xuyên suốt trong mọi chủ trương chính sách của Đảng. Chủ trương thành lập Liên bang cộng hòa dân chủ Đông Dương được thay bằng chủ trương thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Ngày 19 – 5 – 1941, Hồ Chí Minh sáng lập Mặt trận Việt Minh.
Ngày 22 – 12 – 1944, Hồ Chí Minh sáng lập Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Tháng 8-1945, chớp đúng thời cơ, Hồ Chí Minh kêu gọi tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Tư tưởng Hồ Chí Minh phát triển và toả sáng trong thực tiễn. Hồ Chí Minh đã lãnh đạo Đảng ta, nhân dân ta làm cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, mở ra thời đại mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam.
Ngày 2 – 9 – 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, sáng lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đầu tiên ở vùng Đông Nam Á. Một trong những mục tiêu cơ bản nhất trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng ta do Hồ Chí Minh khởi thảo trở thành hiện thực. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 mới là thắng lợi vĩ đại đầu tiên của tư tưởng Hồ Chí Minh trong lịch sử cách mạng Việt Nam.
1- Gian khó và thử thách lớn càng làm sáng tỏ phẩm chất người anh hùng của dân tộc, một danh nhân văn hóa kiệt xuất; làm sáng tỏ Hồ Chí Minh – Một người đại nhân, đại trí, đại dũng.
2- Chân lý và sáng tạo lớn trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng được khẳng định: nhiệm vụ phản đế, giành độc lập dân tộc là cốt tử, đầu tiên, tiền đề để tiến tới chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ đấu tranh giai cấp, giành dân chủ phải thực hiện từng bước phục vụ cho giành độc lập dân tộc và tiến dần lên chủ nghĩa xã hội.
3- Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc mà nòng cốt là liên minh công-nông -trí không chỉ là sách lược chính trị mà còn là chiến lược lâu dài quyết định thắng lợi của công cuộc xây dựng bảo vệ Tổ quốc ta./.
N.T.T
Bài viết liên quan
Mẫu biểu trưng, bộ nhận diện chính thức kỷ niệm 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam
VHO – Bộ VHTTDL đã bàn hành Quyết định số 3228/QĐ – BVHTTDL ngày 9.9.2025 về việc phê duyệt mẫu biểu trưng (logo), bộ nhận diện để sử dụng chính thức trong các hoạt động tuyên truyền kỷ niệm 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam (6.1.1946 – 6.1.2026). Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký và thay thế Quyết định số 3175/QĐ-BVHTTDL ngày 4.9.2025 của Bộ trưởng Bộ VHTTDL.
Tốt nghiệp THPT 26.6.2025: Kỳ thi được toàn xã hội đặt nhiều kỳ vọng
VHO – Biến kỳ thi tốt nghiệp THPT thành “ngày hội” của người học, người dạy và cả xã hội. Đó là sự chuyển hóa từ một nền giáo dục thi cử nặng ứng thí sang nền giáo dục khai phóng và nhân văn.
Phát huy vai trò văn hóa, VHNT về giáo dục cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư
VHO – Thay mặt Bộ Chính trị, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú vừa ký ban hành Chỉ thị số 42 của Bộ Chính trị về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”.
Triển khai Tháng hành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có công văn 1461 /BVHTTDL-GĐ về việc triển khai Tháng hành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình
Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số
Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thật sự trở thành sức mạnh nội sinh, tạo động lực cho phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Đây cũng chính là cơ sở quan trọng trong việc định hướng, xây dựng chính sách bảo tồn, phát huy, quảng bá giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.









