Mấy vấn đề về lễ hội và quản lý lễ hội hiện nay
03/10/2014 | 1:37
Lễ hội và Quản lý lễ hội là vấn đề được đề cập khá nhiều trong thời gian gần đây ở nước ta. Tuy nhiên, mọi người vẫn thấy còn nhiều vấn đề đặt ra về việc đi Lễ, đi Hội và nhất là tổ chức và quản lý Lễ hội. Ảnh minh họa. Vì […]
Lễ hội và Quản lý lễ hội là vấn đề được đề cập khá nhiều trong thời gian gần đây ở nước ta. Tuy nhiên, mọi người vẫn thấy còn nhiều vấn đề đặt ra về việc đi Lễ, đi Hội và nhất là tổ chức và quản lý Lễ hội.
Ảnh minh họa.
Vì sao vậy? Đây là vấn đề không nhỏ đã, đang và sẽ tiếp tục đặt ra, bài viết này chỉ chia sẻ một vài khía cạnh về vấn đề trên trong dịp đầu Xuân Giáp Ngọ 2014.
- Về Lễ hội và nhận thức khi đi Lễ, Hội
Lễ, Hội ở nước ta là sinh hoạt văn hóa tinh thần, văn hóa tâm linh mang đậm sắc màu tín ngưỡng, tôn giáo của một cư dân nông nghiệp trồng trọt… khu vực nhiệt đới gió mùa; mang đậm triết lý cầu bình an, hạnh phúc, “nhân khang, vật thịnh” trong chu kỳ sản xuất, làm ăn, sinh sống một năm – mỗi độ Tết đến, Xuân về. Từ hàng ngàn, hàng trăm năm nay, tập tục lối sống đó đã trở thành truyền thống, nét đẹp văn hóa của đồng bào các dân tộc, từ miền xuôi lên đến núi cao, biên giới, hải đảo.
Cùng với sự thay áo của cỏ cây và bừng sắc hoa Xuân, mỗi độ đầu năm mới lòng người xốn xang, bâng khuâng vận hành cùng vũ trụ đi tới những chu trình mới, hy vọng sẽ có nhiều điều tốt đẹp, an lành đến với mọi người, mọi nhà và quốc gia – dân tộc. Các gia đình, dòng họ, thôn bản, buôn, sóc, xóm làng… theo những nhịp thời gian đầu Xuân tổ chức nhiều loại lễ hội ở nhiều địa phương, vùng miền với những sắc màu phong phú để “nghinh xuân”, bày tỏ ước muốn với Trời, Đất, Thần linh… về mong muốn của con người về những điều tốt đẹp.
Mọi người đi Hội, đi Lễ trong những dịp đầu năm là đến sinh hoạt văn hóa dân gian, văn hóa tâm linh, sinh hoạt cộng đồng. Trước đây đó là dịp những người nông dân ở các làng quê hòa mình vào thiên nhiên, tham dự vào những quan niệm triết lý dân gian về vũ trụ, về nhân sinh thông qua những nghi thức, hoạt động văn hóa. Cùng với thời gian các loại hình lễ hội dân gian ở nước ta ngày một định hình phản ánh đời sống văn hóa tâm linh, lịch sử, văn hóa giàu bản sắc của quốc gia.
Ở nước ta thời gian qua đã thống kê được hàng ngàn lễ hội, trong đó chủ yếu là Lễ hội Dân gian chiếm gần 90%; Lễ hội Lịch sử cách mạng chiếm hơn 4%; Lễ hội Tôn giáo trên 6%; Lễ hội du nhập từ nước ngoài và các lễ hội khác dưới 1%. Cùng với nhu cầu sinh hoạt văn hóa tâm linh, Đảng và Nhà nước quan tâm, đầu tư, tôn vinh các giá trị văn hóa vừa để bảo tồn vừa để phục vụ hoạt động du lịch, lễ hội khắp các vùng miền đất nước. Đó là môi trường xã hội, pháp lý cho hoạt động Lễ hội của đất nước được chấn hưng, góp phần quan trọng vào giáo dục truyền thống, quảng bá văn hóa, thu hút du khách, phát triển du lịch.
Tuy nhiên việc tổ chức Lễ, Hội, việc sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng tại các di tích lịch sử, tín ngưỡng, tôn giáo trong thời gian vừa qua còn bộc lộ nhiều vấn đề cần phải trao đổi liên quan đến các hoạt động lễ hội. Ở đây chúng tôi chỉ bàn về hai khía cạnh:
1.1. Về phía người tổ chức Lễ, Hội
Ngoại trừ những lễ hội lớn có tính quốc gia, hoặc địa phương (cấp tỉnh), các lễ hội còn lại là do cấp huyện, cấp cơ sở và các làng, xã… tổ chức. Việc tổ chức Lễ, Hội thường do các địa phương, thôn làng… cử ra một Ban Tổ chức dưới sự điều hành hay phụ trách của chính quyền hay bộ phận văn hóa với sự tham gia của một số ngành liên quan gắn với trật tự, an ninh; dịch vụ ăn nghỉ, sinh hoạt, mua bán đồ lưu niệm vào một dịp nào đó trong năm, nhất là vào mùa Xuân và các ngày “thiêng” gắn với các di tích lịch sử, cách mạng; di tích tôn giáo, tín ngưỡng.
Việc tổ chức thường gắn với một lịch trình hoạt động với các phần Lễ, phần Hội với sự phân công người phụ trách và lực lượng tham gia theo một “kịch bản” và thói quen được diễn ra trong nhiều năm. Đối với một số Lễ, Hội và một số di tích, danh thắng nơi diễn ra Hội, Lễ trong những năm gần đây việc đầu tư về cơ sở vật chất được gia tăng để du khách đến với Lễ, Hội được thuận tiện trong việc đi lại, ăn nghỉ, mua sắm, thưởng ngoạn cảnh đẹp của thiên nhiên và di tích, danh thắng.
Mỗi một lễ hội, một di tích, danh thắng nơi diễn ra lễ hội đều có những đặc điểm riêng về môi trường tự nhiên, về kiến trúc, về ý nghĩa văn hóa tâm linh và liên quan đến sự thu hút du khách và “sức chứa” công chúng đến với lễ hội. Do vậy công việc của mỗi Ban Tổ chức lễ hội cũng rất đa dạng, phong phú và nhiều khi lễ hội thực sự diễn ra lại phá vỡ đi ít nhiều kịch bản của Ban Tổ chức. Đây cũng là đặc điểm và bản chất của việc tổ chức các loại hình lễ hội ở nước ta.
Chất lượng của một sinh hoạt lễ hội tùy thuộc vào khâu tổ chức, vào kịch bản và sự thực thi các nội dung diễn ra như thế nào. Kinh nghiệm tổ chức, quản lý, điều hành năng lực của những thành viên tham gia trong Ban Tổ chức lễ hội là rất quan trọng. Ngoài vấn đề trên ra, chất lượng của sinh hoạt Lễ, Hội còn phụ thuộc và khâu có tính quyết định nữa là ý thức trách nhiệm, sự trong sáng của các thành viên trong Ban Tổ chức, điều hành trước những hiện tượng tiêu cực liên quan đến các hoạt động dịch vụ của nhiều thành phần kinh tế tham gia trong dịp Lễ hội.
Có một điểm mà lâu nay chưa được chú ý đúng mức trong Lễ hội không chỉ của Ban Tổ chức mà còn liên quan đến ngành chức năng, đó là việc tuyên truyền, quảng bá về giá trị văn hóa, ý nghĩa tâm linh của các di tích lịch sử cách mạng, tín ngưỡng tôn giáo, danh thắng… gắn với Lễ hội cho các thế hệ công chúng gần xa khi đến với Lễ hội. Khi người dân, công chúng, “con nhang đệ tử” được giáo dục và trang bị tri thức khi làm lễ, tham gia hội… thì sẽ hình thành nên nét đẹp văn hóa, thuần phong mỹ tục tốt đẹp của các Lễ hội. Những hiện tượng xô bồ, tranh cướp ấn tại Đền Trần (Nam Định), vứt rác bừa bãi, ăn mặc hở hang, treo thịt thú rừng tại cửa Phật (chùa Hương) và nhiều điểm du lịch khác; những người đến các điểm di tích, lễ hội để xin tài lộc, nhờ người khấn vái trong một tâm thế đua chen, không tĩnh tâm, không biết lời khấn, không biết khấn ai; không biết sơ đồ bài trí, và ý nghĩa các ban trong Đình, Đền, Chùa khá phổ biến, tạo nên những hình ảnh phản cảm tại các chốn linh thiêng.
Vì những lẽ trên, việc giới thiệu quảng bá ý nghĩa của các lễ hội, các di tích tâm linh, văn hóa, lịch sử gắn với lễ hội trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong nhà trường… tạo cho các thế hệ công dân một tri thức tối thiểu là rất cần thiết, điều đó tác động trực tiếp và gián tiếp điều chỉnh hành vi một cách đúng hướng của những người tham gia lễ hội nhất là những lễ hội gắn với “không gian thiêng” trong đời sống văn hóa dân tộc. Trong thời gian tới, đây là hoạt động quan trọng cần được các cơ quan chức năng ngành Văn hóa, cơ quan quản lý, chính quyền địa phương quan tâm mới có thể từng bước góp phần tạo nên hình ảnh sinh hoạt lễ hội của quốc gia và địa phương thực sự ý nghĩa, văn hóa trong con mắt du khách nước ngoài và trong nước; là điều kiện quan trọng góp phần vào nâng cao hiệu quả quản lý Lễ hội.
1.2. Về phía người dân đi lễ, hội
Thành phần công chúng tham gia lễ hội rất đa dạng (trong nước, kiều bào, người nước ngoài, người có đạo, người không có đạo, già, trẻ, gái, trai, học sinh, sinh viên, cán bộ, công chức…) Mỗi người đến với Lễ hội với những mục đích vừa giống nhau vừa khác nhau.
Giống nhau là đa phần mọi người đến lễ hội để vui chơi, thưởng ngoạn cảnh trí của danh thắng, di tích lịch sử, không gian tôn giáo, tín ngưỡng và đến với “không gian thiêng” (đình, đền, chùa) cầu mong sức khỏe, làm ăn gặp mọi sự tốt lành, hanh thông, “tấn tài, tấn lộc”. Khác nhau là có người đi để nghiên cứu, chiêm ngưỡng những giá trị của kiến trúc dân gian, của các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo; đi cầu tự, đi cầu cho qua những “vận hạn” cho gia đình, bản thân; cho “công ty” ăn nên làm ra lại có người chỉ đi chơi hội, chơi đền, đình, chùa mà không cầu gì hết. Các bạn thanh niên thì rủ các nhóm bạn, cùng đi để du lịch, du xuân, cầu mong việc học hành và là dịp để nam thanh, nữ tú hiểu biết về nhau để có thể kết bạn, kết tình.
Tuy nhiên có cái khác quan trọng, phổ biến kể cả những người ít học đến những người có học đó là sự hiểu biết chân xác về nội dung, ý nghĩa của Lễ hội mà mình đang đến tham dự; hiểu biết về di tích lịch sử, cách mạng, di tích văn hóa tâm linh, tôn giáo, tín ngưỡng (đình, đền, chùa). Tại không ít địa điểm của di tích và lễ hội có văn bia giới thiệu về các di tích, danh thắng và lễ hội liên quan, song ít người dừng lại đọc và nói với người thân, người cùng đi để cảm nhận mình đang đến đâu, đang làm gì để hòa vào dòng người với tư cách là tham gia vào sinh hoạt văn hóa của cộng đồng tạo nên cái chung trong cái riêng; tạo nên thái độ đúng mực, đúng tính chất của người đi hội lễ có “văn hóa”, không tạo nên những hoạt động thiếu ý thức, không phù hợp và phản cảm với những không gian thiêng và trong sinh hoạt Lễ hội.
Việc “kiểm tra” nhận thức của người đi Lễ hội về sự hiểu biết Lễ hội mà mình tham dự và không gian di tích gắn với nó không khó. Chúng ta có thể phỏng vấn bất kỳ một người nào và sẽ nhận được rất nhiều những ý kiến khác nhau của người tham dự Lễ hội bởi sự quan tâm, trang bị tri thức cơ bản cho mình trước khi đi Hội lễ cũng rất đa dạng, thậm chí cứ đi mà không quan tâm nhiều đến nội dung ý nghĩa.
Đây là một trong những nguyên nhân tạo nên hành vi “lộn xộn” không cần thiết của những người tham dự Lễ hội, khi đi “xin ấn”, “cầu tài, cầu lộc”… Nếu những người có nhận thức đúng về các nghi thức và ý nghĩa của nó trong Lễ hội thì chắc chắn hành vi đua chen sẽ giảm đi rất nhiều, “tâm lý đám đông” sẽ mang tính “văn hóa”, văn minh hơn.
- Về quản lý lễ hội
Tổ chức và quản lý lễ hội có thể nói là hai mặt của một vấn đề, thể hiện chức năng, vai trò của cơ quan quản lý văn hóa trong việc đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa nói chung và văn hóa tâm linh nói riêng của cộng đồng trong “chu kỳ sinh hoạt văn hóa một năm” và đặc biệt là trong dịp mùa Xuân.
Tổ chức các hoạt động lễ hội có quan hệ mật thiết đến nội dung, chất lượng quản lý. Tổ chức lễ hội là một phức hợp các vấn đề bên trong và bên ngoài liên quan đến diễn trình từ A đến Z, từ đầu đến cuối như chúng ta thường thấy. Có những lễ hội thường xuyên được tổ chức và diễn ra hàng năm nhưng không phải lúc nào cũng được tổ chức tốt.
Tùy các loại hình lễ hội mà khâu tổ chức có quy mô lớn, nhỏ khác nhau. Hiện nay việc tổ chức lễ hội ở các địa phương cũng rất đa dạng khi phân công cho các đơn vị chủ quản, đăng cai. Năng lực tổ chức lễ hội do vậy mà cũng không đồng đều từ khâu chuẩn bị, đến các phần Lễ, phần Hội, tổ chức các dịch vụ liên quan, đến trật tự, an ninh, giao thông, vệ sinh môi trường; đến nếp sinh hoạt liên quan đến lễ hội, đến ý thức, hành vi văn hóa đối với các di tích, danh thắng. Việc sắp xếp về tổ chức nhân sự, bố trí mặt bằng, vận trù cho các hoạt động của lễ hội và đi lại của du khách… tại các lễ hội còn nhiều vấn đề bất cập. Các hoạt động tổ chức đó có tác động quyết định đến hoạt động quản lý lễ hội.
Việc quản lý Lễ hội bao gồm các vấn đề cơ bản như:
– Quản lý các nội dung hoạt động của lễ hội: bao gồm việc theo dõi các hoạt động thuộc về phần nghi lễ như thực hiện các nghi thức tế, lễ, rước, dâng hương, dâng lễ, cúng bái; một số lễ hội còn có các sinh hoạt tín ngưỡng mang đặc trưng riêng như hầu đồng, phát ấn.
Quản lý các hoạt động trong sinh hoạt hội hè, vui chơi với hoạt động như diễn xướng dân gian và đương đại, các trò chơi, trò diễn, các chương trình nghệ thuật, thi đấu các môn thể thao dân tộc (đánh cờ, vật, bơi chải, đua thuyền, kéo co, bắn nỏ…).
Quản lý lễ hội là làm thế nào vừa đảm bảo được đặc trưng văn hóa tâm linh, nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo; đảm bảo tính thiêng của các nghi lễ cổ truyền, giữ gìn được những giá trị tốt đẹp của lễ hội, đồng thời tránh được những biểu hiện của mê tín dị đoan, buôn thần bán thánh, dung tục hóa các sinh hoạt trong một không gian thiêng diễn ra lễ hội… Bên cạnh đó, phải làm sao cho các hoạt động hội hè đáp ứng được nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ văn hóa của người dân, những sinh hoạt văn hóa phong phú, hấp dẫn, phù hợp với thị hiếu công chúng, vừa đảm bảo tính giáo dục, nhân văn, lành mạnh theo đúng pháp luật và nếp sống mới.
– Quản lý về trật tự, an ninh – xã hội của lễ hội: Lễ hội là nơi thu hút rất đông nhân dân và du khách thập phương, từ hàng vạn đến hàng triệu người, nên dễ xảy ra chen lấn, xô đẩy, mất trật tự an ninh, ùn tắc giao thông, tai nạn, dễ diễn ra các hiện tượng tiêu cực như móc túi, lừa đảo, bắt chẹt khách, cờ gian bạc lận… Do vậy, việc quản lý và tổ chức lễ hội tốt là làm sao đảm bảo an ninh trật tự, an toàn giao thông, phòng chống cháy nổ, trông coi phương tiện đi lại… Đây là vấn đề nhức nhối tại không ít các lễ hội diễn ra trong nhiều năm. Nó là hệ quả từ hai phía: Ý thức của người dân và công chúng khi tham gia lễ hội (như đã nói ở phần trên) và Năng lực trong tổ chức, điều hành, quản lý lễ hội của của các địa phương.
– Quản lý vấn đề bảo vệ môi trường: do tính chất sinh hoạt văn hóa đông người với nhiều thành phần, tầng lớp khác nhau nên các Lễ hội thường là những tụ điểm và có nguy cơ cao gây ô nhiễm môi trường. Một Lễ hội được tổ chức tốt là phát triển đi đôi với bảo vệ tốt môi trường xung quanh, giữ gìn cảnh quan sinh thái, đảm bảo phát triển bền vững. Bảo vệ môi trường tốt không chỉ thể hiện trong thời gian diễn ra lễ hội (không xả rác bừa bãi, không xâm hại thiên nhiên, gây mất vệ sinh, ô nhiễm môi trường…), mà còn được duy trì trong quá trình chung sống hài hòa với tự nhiên, giữ gìn cảnh quan môi trường, hạn chế tác động tới thiên nhiên trong quá trình phát triển. Bên cạnh đó, lễ hội cũng là nơi dễ dẫn đến các vấn đề về vệ sinh, an toàn thực phẩm, rất cần tới công tác kiểm tra, giám sát vệ sinh và y tế… Do vậy, quản lý vấn đề bảo vệ môi trường trong các lễ hội là nội dung đặt ra như một thành tố hữu cơ của quá trình quản lý.
– Quản lý, bảo vệ các di tích, cơ sở thờ tự, không gian tôn giáo, tín ngưỡng: Lễ hội là một loại hình văn hóa phi vật thể, nó thường tồn tại và gắn liền với các di sản văn hóa vật thể là các di tích, cơ sở thờ tự, các hiện vật, đồ thờ, không gian thiêng… Các lễ hội được tổ chức thành công thường đi liền với việc trùng tu, tôn tạo, bảo vệ di tích tốt, cơ sở thờ tự khang trang, không bị bóp méo, biến dạng, công tác quản lý hiện vật, tài sản, đồ thờ tự tốt. Đây là nội dung quan trọng trong các hoạt động quản lý lễ hội. Việc quản lý đi đôi với trùng tu, tôn tạo một cách khoa học đồng thời phải gắn liến với quảng bá, tuyên truyền các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của các công trình văn hóa tại các không gian thiêng của văn hóa dân tộc và các địa phương.
– Quản lý tài chính của lễ hội: Trong những năm gần đây cùng với việc đi hội là việc du khách thập phương “cung tiến”, “công đức” tiền của cho các di tích thông qua các mùa hội lễ. Có nơi số tiền qua các mùa lễ hội du khách cung tiến không nhỏ như Lễ hội đền Bà chúa xứ Châu Đốc và nhiều nơi khác…Vấn đề quản lý tài chính của lễ hội đặt ra như một yêu cầu tất yếu và có ý nghĩa quan trọng trong việc tôn tạo, tu bổ và tạo thêm các điều kiện để tổ chức và quản lý tốt lễ hội. Ban Tổ chức, Ban quản lý các lễ hội cần xây dựng các nguyên tắc quản lý công khai, minh bạch để quản lý và chi tiêu nguồn kinh phí đó một cách có hiệu quả văn hóa, kinh tế – xã hội.
Trong những năm qua, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã kiểm tra hàng chục di tích trên hai mươi địa phương trong cả nước. Bộ đã tổ chức các đoàn công tác để kiểm tra, chỉnh đốn các hoạt động lễ hội nhất là dịp trước Tết, trong Tết và sau Tết. Các đoàn kiểm tra của Bộ đã đến trực tiếp các cơ sở có lễ hội chứ không thông báo cho chính quyền địa phương.
Kết quả cho thấy, bên cạnh những hoạt động tích cực, việc tổ chức và quản lý các hoạt động còn tồn tại không ít tiêu cực. Qua Lễ hội cho thấy còn nhiều hiện tượng làm xói mòn giá trị tốt đẹp của lễ hội với các tệ nạn đánh bạc, lạm dụng tín ngưỡng để hành nghề mê tín dị đoan; diễn viên vừa hát quan họ vừa ngả nón xin tiền tại hội Lim; tại một số di tích, hòm công đức được đặt không phù hợp. Hiện tượng khấn thuê, nạn đốt vàng mã, bói toán xảy ra ở nhiều nơi như đền Đồng Bằng, đền Tiên La (Thái Bình), đền Bà Chúa Kho (Bắc Ninh), đền Mẫu (Hưng Yên), đền Cuông, đền Cờn (Nghệ An), chùa Bồ Đà, chùa Thổ Hà (Bắc Giang), đền Mẫu, đền Bắc Lệ (Lạng Sơn) cũng như việc hướng dẫn quản lý tiền công đức. Qua các mùa lễ hội các địa phương thu hàng trăm tỷ đồng tiền công đức, tiền giọt dầu, nhưng con số này đã được sử dụng thế nào, đơn vị nào quản lý hiện vẫn là điều chưa rõ ràng, mỗi nơi một kiểu và thiếu minh bạch. Một vài hội nghị của Bộ đã bàn về vấn đề này song vẫn chưa có biện pháp giải quyết dứt điểm.
Các vấn đề trên đang được Bộ quan tâm, đặc biệt là triển khai xây dựng một quy hoạch tổng thể cho hoạt động lễ hội từ năm 2012, đã gửi văn bản lấy ý kiến với các Bộ ngành, các địa phương và các tổ chức xã hội. Trên cơ sở đó, Bộ sẽ tổng hợp các ý kiến và hoàn thiện, dự kiến trình Chính phủ. Trong dịp Tết Nguyên đán Giáp Ngọ 2014, các lễ hội bên cạnh những mặt tích cực đạt được, vẫn còn một số tồn tại diễn ra gây ra nhiều hệ lụy xấu, phiền lòng du khách, không phù hợp với bản sắc văn hóa Việt Nam, tạo dư luận không tốt trong xã hội. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vừa có công văn yêu cầu Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức thực hiện gấp một số nội dung liên quan đến tổ chức và quản lý Lễ hội đảm bảo tính lành mạnh, bảo tồn tôn vinh các giá trị văn hóa, tiết kiệm, trật tự, văn minh.
- Vấn đề đặt ra
Như vậy mặc dù trong nhiều năm hoạt động và quản lý Lễ hội ở nước ta, vấn đề tổ chức, quản lý tuy đã được quan tâm song vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra cần được tiếp tục hoàn thiện để từ phía nhà quản lý, tổ chức và người dân tham gia lễ hội cùng góp phần tạo dựng một hệ thống lễ hội Việt Nam văn minh, đúng nghĩa là những sinh hoạt văn hóa tâm linh, cộng đồng theo thuần phong mỹ tục, tạo hình ảnh đẹp trong con mắt bạn bè quốc tế và dư luận xã hội.
Vấn đề đặt ra là muốn tổ chức và quản lý lễ hội tốt, đáp ứng các mục tiêu đề ra thì đồng thời phải tiến hành một cách có kế hoạch, có lộ trình và cần quan tâm đến những hướng đầu tư với các nội dung sau:
– Tăng cường công tác giáo dục tuyên truyền về ý nghĩa tâm linh, lịch sử, văn hóa của các di tích, danh thắng gắn với các lễ hội từ nhỏ đến lớn cho công chúng tại các địa phương và du khách thập phương trước khi đến lễ hội.
– Người đi lễ hội cần có kiến thức cơ bản về các loại hình lễ hội tâm linh, các di tích kiến trúc tâm linh, tôn giáo (đình, đền, chùa) về cấu trúc, về ý nghĩa của các khu bài trí nội thất và ngoại thất để biết mình đang đến đâu, thưa ai, thưa như thế nào, cầu gì, cầu như thế nào…? Đặc biệt phải có tri thức về các loại triết lý tâm linh của từng loại tín ngưỡng và tôn giáo để tránh nhầm lẫn trong khấn vái, trong cầu xin theo lối “râu ông nọ cắm cằm bà kia”. Người có kiến thức trên sẽ không chen lấn, xô bồ ở chốn linh thiêng cửa Đình, cửa Đền, cửa Phật.
– Các cơ quan quản lý phối hợp với các nhà trường, địa phương, các Tổ chức đoàn thể xã hội có kế hoạch giáo dục, tuyên truyền làm cho mọi người nâng cao hiểu biết về ý nghĩa văn hóa tâm linh, các tri thức về tâm linh tín ngưỡng, tôn giáo, nếp sống văn hóa chốn tâm linh… một cách dài hơi, liên tục thì mới từng bước tránh khỏi được nếp sống “không văn hóa” chen lấn, xô đẩy, mất vệ sinh môi trường, hành nghề mê tín, tệ cờ bạc đang diễn ra tại các lễ hội.
– Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý, tổ chức lễ hội cho cán bộ chuyên môn và chính quyền các địa phương diễn ra lễ hội, đặc biệt là kỹ năng tổ chức và quản lý. Ở nhiều quốc gia làm sao việc tổ chức lễ hội diễn ra trật tự văn minh, giàu ý nghĩa nhân văn, văn hóa tâm linh nếu như không có một trình độ cao về tổ chức và quản lý ?
– Các văn bản chỉ đạo vừa qua còn thiên về xử lý các tình thế, cần có chính sách, cơ chế phù hợp để thực hiện các nội dung Tổ chức và Quản lý Lễ hội một cách có lộ trình, kết hợp trước mắt với lâu dài thì mới có thể khắc phục những tồn tại trong quản lý lễ hội hiện nay./.
L.N.T
Bài viết liên quan
Mẫu biểu trưng, bộ nhận diện chính thức kỷ niệm 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam
VHO – Bộ VHTTDL đã bàn hành Quyết định số 3228/QĐ – BVHTTDL ngày 9.9.2025 về việc phê duyệt mẫu biểu trưng (logo), bộ nhận diện để sử dụng chính thức trong các hoạt động tuyên truyền kỷ niệm 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam (6.1.1946 – 6.1.2026). Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký và thay thế Quyết định số 3175/QĐ-BVHTTDL ngày 4.9.2025 của Bộ trưởng Bộ VHTTDL.
Tốt nghiệp THPT 26.6.2025: Kỳ thi được toàn xã hội đặt nhiều kỳ vọng
VHO – Biến kỳ thi tốt nghiệp THPT thành “ngày hội” của người học, người dạy và cả xã hội. Đó là sự chuyển hóa từ một nền giáo dục thi cử nặng ứng thí sang nền giáo dục khai phóng và nhân văn.
Phát huy vai trò văn hóa, VHNT về giáo dục cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư
VHO – Thay mặt Bộ Chính trị, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú vừa ký ban hành Chỉ thị số 42 của Bộ Chính trị về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”.
Triển khai Tháng hành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có công văn 1461 /BVHTTDL-GĐ về việc triển khai Tháng hành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình
Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số
Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thật sự trở thành sức mạnh nội sinh, tạo động lực cho phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Đây cũng chính là cơ sở quan trọng trong việc định hướng, xây dựng chính sách bảo tồn, phát huy, quảng bá giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.










